Bài tập: Hãy so sánh nghệ thuật trần thuật của các tác giả qua hai đoạn trích “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm” (Đặng Thuỳ Trâm) và “Một lít nước mắt”(Ki-tô A-ya)

Trả lời:

a) Chuẩn bị

– Đọc kĩ đề bài và xác định các vấn đề đặt ra trong đề bài.

– Đọc lại hai đoạn trích Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm và Một lít nước mắt. Tìm và ghi lại những chi tiết liên quan đến sự kiện, miêu tả, nghị luận, trữ tình trong đoạn trích của hai tác giả.

– Đọc kĩ các yêu cầu khi viết bài nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm văn học đã nêu ở Bài 1, phần Viết, mục 1.1 (trang 35 – 36) và nội dung phần Kiến thức ngữ văn về tính phi hư cấu và một số thủ pháp nghệ thuật trong nhật kí, phóng sự, hồi kí (trang 81 – 82).

b) Tìm ý và lập dàn ý

– Tìm ý cho bài viết bằng cách nêu và trả lời các câu hỏi sau:

+ Trong nhật kí của hai tác giả, người kể chuyện là ai? Nội dung câu chuyện gồm những sự việc và trải nghiệm nào? Có gì giống và khác nhau trong công việc, quan hệ xã hội, tâm trạng, tình cảm, ước mơ và lẽ sống của hai tác giả?

+ Thủ pháp trần thuật kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả, nghị luận, trữ tình trong nhật kí của hai tác giả biểu hiện như thế nào? Có gì giống và khác nhau trong cách hai tác giả sử dụng kết hợp các thủ pháp nghệ thuật đó?

+ Em có nhận xét, đánh giá như thế nào về lời trần thuật và hiệu quả của thủ pháp nghệ thuật kết hợp trần thuật với miêu tả, nghị luận, trữ tình của hai tác giả?

– Lập dàn ý cho bài viết bằng cách lựa chọn, sắp xếp các ý theo bố cục ba phần:

mở bài, thân bài, kết bài.

c) Viết

Dựa vào dàn ý đã chuẩn bị để thực hành viết với những yêu cầu khác nhau.

– Viết đoạn mở bài hoặc một đoạn trong phần thân bài.

– Viết bài văn hoàn chỉnh.

Hãy so sánh nghệ thuật trần thuật của các tác giả qua hai đoạn trích “Nhật kí Đặng Thuỳ Trâm” (Đặng Thuỳ Trâm) và “Một lít nước mắt”(Ki-tô A-ya).

*Bài viết mẫu tham khảo:

Trong thể loại nhật kí, đã có không ít tác giả khám phá và tạo ra những tuyệt tác mang nỗi tâm tư sâu lắng và ý nghĩa nhân văn cao đẹp. Đặng Thùy Trâm cũng vậy, mặc dù đã ra đi nhưng cô đã để lại một áng văn đẹp đẽ mang nhiều cảm xúc và hơi thở một thời đã qua, ấy chính là “Nhật kí Đặng Thùy Trâm”. Đối sánh với tác phẩm này, có thể kể đến đoạn trích “Một lít nước mắt” của cô bé Ki-tô A-ya. Cả hai đoạn trích đều là những hơi thở cuối cùng còn sót lại của tác giả đối với cuộc đời. Xuyên suốt tác phẩm, không chỉ là dòng cảm xúc sâu lắng và ý nghĩa nhân văn cao đẹp mà nổi bật lên đó chính là nghệ thuật trần thuật đặc sắc.

Nghệ thuật trần thuật được thể hiện đầu tiên qua người kể chuyện đều là chính tác giả, nhân vật trung tâm là tác giả, nhật ký gắn với ngôi kể thứ nhất. Mọi việc được ghi chép ra đều được soi ngắm qua tác giả. Với ngôi kể thứ nhất, người kể chuyện chứng kiến sự việc bằng tất cả giác quan của mình. Nói đến thể loại nhật ký chủ yếu sử dụng hình thức ngôi kể thứ nhất xưng “tôi”, “mình”. Bởi vậy mà yếu tố tâm tình, trò chuyện là yếu tố quan trọng nhất trong nhật ký. Hơn nữa, đó lại là những lời tâm sự, trò chuyện của người viết với chính bản thân họ.

Từ điểm nhìn và người kể chuyện là chính tác giả mà nội dung câu chuyện được trần thuật cũng là những sự việc và trải nghiệm cá nhân. Ở “nhật kí Đặng Thùy Trâm” đó là những công việc hằng ngày của tác giả và câu chuyện về những thanh niên hiếu học, mạnh mẽ, kiên cường – những người anh hùng vô danh. Đó là sự hi sinh, đánh mất những ước mơ, hoài bão cá nhân và tuổi thanh xuân cống hiến cho chiến trận. Cuối cùng là nỗi nhớ nhà da diết sâu thẳm trong trái tim tác giả và sự kiên cường vượt qua những cảm xúc cá nhân và bao gian khó trên chiến trận. Trong “Một lít nước mắt” xoay quanh sự việc A-ya phải chống chọi với căn bệnh nan y nhưng vẫn lạc quan, hi vọng. Cô bé phải một mình xoay sở với cú ngã cũng như các hoạt động thường ngày. Một kí ức nhiều cảm xúc nhất có lẽ là lúc cô bé thông báo cho mẹ rằng mình không thể đi được nữa. Cuối đoạn trích là mặc cảm cá nhân, những cảm xúc tiêu cực về bệnh tật nhưng nhanh chóng được xóa bỏ bởi ánh sáng lạc quan trong cô bé.

Thêm nữa, ta có thể nhận thấy ở cả hai tác giả đều có dòng cảm xúc tự sự giống nhau, ở họ đều mang một khát vọng giống nhau, đó là được tự do. Đặng Thùy Trâm mong muốn giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc. Còn A-ya khát khao giành lại tự do cho chính bản thân mình, để có thể đi, đứng, chạy nhảy, làm bất cứ điều gì cô thích. Đặc biệt ở họ đều có một sự mạnh mẽ, lạc quan phi thường.

Đều là những con người có nhiều cảm xúc, cũng có những phút yếu lòng, nhưng sau tất cả, họ nhanh chóng vượt thoát ra khỏi những cảm xúc tiêu cực, nhìn về phía trước, tiếp tục tiến bước trên con đường đấu tranh của mình.

Giống nhau về tâm trạng, cảm xúc và lẽ sống là vậy, hai tác giả lại có sự khác nhau về công việc và quan hệ xã hội. Một bên là cô bé A-ya chỉ vỏn vẹn trong vòng tay mẹ, một bên là nữ bác sĩ Đặng Thùy Trâm một ngày phải tiếp xúc rất nhiều người. Cũng chính điều này đã tạo ra sự khác biệt về tình cảm. Nếu A-ya chủ yếu bộc lộ tình cảm với người mẹ thì ở tác giả Đặng Thùy Trâm, cô không chỉ có tình cảm gia đình, nỗi nhớ thương quê hương, mà còn rất nhiều tình cảm yêu thương lẫn ngưỡng mộ những bạn trẻ, nào Liên, nào Thuận – những người anh hùng vô danh.

Ngoài ra, một điểm đặc biệt trong nghệ thuật trần thuật của hai tác giả đó là trong nhật kí đều có sự kết hợp giữa kể chuyện với miêu tả, nghị luận, trữ tình. Ở nhật kí Đặng Thùy Trâm, sự kết hợp đó được thể hiện qua một số đoạn văn như “Thuận vừa mới khóc cha chết, hai chiếc tang còn nặng trên ngực nhưng nụ cười đã trở lại trên đôi môi nhợt nhạt…cũng là một hình ảnh mà mình cần học tập”; “Từ hàng lim xào xạc trên đường Đại La, từ tiếng sóng sông Hồng dào dạt vỗ đến cả âm thanh hỗn tạp của cuộc sống hủ đô vẫn vang vọng trong con không một phút nào nguôi cả.”; “con trở về giữa vòng tay êm ấm của ba má, trong tiếng cười trong trẻo của các em và trong ánh sáng chan hoà của Hà Nội.”. Ở một lít nước mắt, sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật được thể hiện qua các đoạn văn như “Mùa xuân rồi cũng qua đi, những cánh hoa bay lả tả lọt qua cửa xe hơi, mình đưa tay đón lấy, chợt một cảm giác ấm áp như tình yêu thương của mẹ dâng tràn, cảm giác thật an lành.” Hay trong đoạn “mình cứ liên tục trồi lên ngụp xuống tron bồn tắm. Nhưng kì lạ thật, mình không hề có cảm giác là mình sẽ chết. Thay vào đó, mình được nhìn thấy một thế giới trong suốt, có lẽ thiên đường cũng như vậy chăng?.”; “Mình bò đến bên nhà vệ sinh cách đó ba mét, hành lang lạnh cóng. Thoạt tiên, lòng bàn chân mình còn mềm mềm. Nhưng dần dần, đầu gối và lòng bàn tay lẫn bàn chân đều trở nên cứng đờ”. Có thể thấy, sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật ở cả hai tác phẩm đều đưa đến hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin sự kiện, đặc điểm tính cách và gia tăng tính biểu cảm cho câu chuyện.

Thông qua hai đoạn trích, bên cạnh dòng cảm xúc sâu lắng trong những dòng tự thuật của tác giả, ta còn nhận ra nghệ thuật trần thuật đặc sắc thể hiện qua lời tự thuật, ngôi kể,….Đặc biệt là thủ pháp nghệ thuật kết hợp trần thuật với miêu tả, nghị luận, trữ tình. Giữa hai tác giả tuy có những điểm giống và khác nhau tuy nhiên, ở họ đều mang đến những áng văn tự sự độc đáo và đầy diễn cảm, những áng văn ấy như một thứ ánh sáng diệu kì, xuyên thấu vào tâm hồn độc giả, đưa đến những dòng cảm xúc tuy đượm buồn nhưng vô cùng đẹp đẽ.

d) Kiểm tra và chỉnh sửa

Tham khảo các yêu cầu đã nêu ở Bài 1, phần Viết, mục d (trang 39 – 40); đối chiếu với dàn ý đề văn đã làm ở bài này.

2.2. Rèn luyện kĩ năng viết: Vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận

a) Cách thức

Trong văn nghị luận, để làm sáng tỏ vấn đề và thuyết phục người đọc, người viết cần tiếp cận vấn đề từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này đồng nghĩa với việc phải đặt ra và trả lời các câu hỏi như: Vấn đề đó là gì?, Có những khía cạnh nào?, Mang ý nghĩa, giá trị gì?, Được thể hiện như thế nào trong cuộc sống và trong văn chương?…

Trả lời các câu hỏi ấy chính là đang dùng các thao tác nghị luận như giải thích, chứng minh, phân tích, bác bỏ, so sánh, bình luận. Tuy nhiên, không phải mọi bài văn nghị luận đều cần sử dụng phối hợp các thao tác nghị luận. Tuỳ thuộc vào vấn đề nghị luận và đối tượng tiếp nhận mà người viết lựa chọn, phối hợp một số thao tác nghị luận nhằm đạt hiệu quả mong muốn.

Để vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận, các em cần:

– Hiểu rõ đặc điểm và công dụng của từng thao tác.

– Xác định đúng yêu cầu: để làm rõ vấn đề cần sử dụng thao tác nào cho phù hợp và có hiệu quả.

– Thao tác nào có vai trò nòng cốt tạo nên mạch lập luận của vấn đề đưa ra để nghị luận, và những thao tác nào phối hợp giúp cho lập luận được sinh động, có chiều sâu.