Soạn bài Ôn tập lớp 12 trang 98 Tập 1

Câu 1 (trang 98 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Chỉ ra tác dụng của yếu tố kì ảo trong các tác phẩm Chuyện chức phán sự đền Tản Viên, Trên đỉnh non Tản.

Lời giải 1:

Lời giải 1:

Lời giải 1:

Lời giải 1:

Hôm nay, tôi xin được trình bày bài thuyết trình về so sánh, đánh giá hai tác phẩm “Làng” và “Vợ chồng A Phủ”.

I. Mở bài:

Giới thiệu hai tác phẩm:

“Làng” (Kim Lân):

Tác giả: Kim Lân.

Hoàn cảnh sáng tác: 1948.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến qua nhân vật ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài):

Tác giả: Tô Hoài.

Hoàn cảnh sáng tác: 1952.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị qua nhân vật Mị và A Phủ.

II. Thân bài:

So sánh:

Về chủ đề, nội dung:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến với những bất công, áp bức.

Cả hai tác phẩm đều thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của người nông dân và người dân tộc thiểu số.

Khác nhau:

“Làng” tập trung vào bi kịch tinh thần của người nông dân khi bị giặc Pháp cướp đi quê hương.

“Vợ chồng A Phủ” tập trung vào cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

Về nghệ thuật:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều sử dụng những phương pháp nghệ thuật chung như miêu tả, biểu cảm, …

Cả hai tác phẩm đều có ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống.

Khác nhau:

“Làng” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả tâm lí nhân vật để thể hiện bi kịch tinh thần của ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả cảnh thiên nhiên để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của Mị và A Phủ.

Đánh giá:

Khẳng định giá trị của hai tác phẩm:

“Làng” là một tác phẩm hiện thực xuất sắc, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

“Vợ chồng A Phủ” là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của cường quyền và giai cấp thống trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sức sống tiềm tàng của người dân tộc thiểu số.

Nêu cảm nhận riêng của bản thân về hai tác phẩm:

Cả hai tác phẩm đều để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc.

“Làng” giúp tôi hiểu rõ hơn về bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến.

“Vợ chồng A Phủ” giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

III. Kết bài:

1. Khẳng định:

“Làng” và “Vợ chồng A Phủ” là hai tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam.

Cả hai tác phẩm đều có giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc.

2. Liên hệ bản thân:

Qua hai tác phẩm, em hiểu thêm về hiện thực xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến.

Em thêm yêu quê hương, đất nước và trân trọng giá trị của tự do, độc lập.

Cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã lắng nghe!

Hôm nay, tôi xin được trình bày bài thuyết trình về so sánh, đánh giá hai tác phẩm “Làng” và “Vợ chồng A Phủ”.

I. Mở bài:

Giới thiệu hai tác phẩm:

“Làng” (Kim Lân):

Tác giả: Kim Lân.

Hoàn cảnh sáng tác: 1948.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến qua nhân vật ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài):

Tác giả: Tô Hoài.

Hoàn cảnh sáng tác: 1952.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị qua nhân vật Mị và A Phủ.

II. Thân bài:

So sánh:

Về chủ đề, nội dung:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến với những bất công, áp bức.

Cả hai tác phẩm đều thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của người nông dân và người dân tộc thiểu số.

Khác nhau:

“Làng” tập trung vào bi kịch tinh thần của người nông dân khi bị giặc Pháp cướp đi quê hương.

“Vợ chồng A Phủ” tập trung vào cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

Về nghệ thuật:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều sử dụng những phương pháp nghệ thuật chung như miêu tả, biểu cảm, …

Cả hai tác phẩm đều có ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống.

Khác nhau:

“Làng” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả tâm lí nhân vật để thể hiện bi kịch tinh thần của ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả cảnh thiên nhiên để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của Mị và A Phủ.

Đánh giá:

Khẳng định giá trị của hai tác phẩm:

“Làng” là một tác phẩm hiện thực xuất sắc, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

“Vợ chồng A Phủ” là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của cường quyền và giai cấp thống trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sức sống tiềm tàng của người dân tộc thiểu số.

Nêu cảm nhận riêng của bản thân về hai tác phẩm:

Cả hai tác phẩm đều để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc.

“Làng” giúp tôi hiểu rõ hơn về bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến.

“Vợ chồng A Phủ” giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

III. Kết bài:

1. Khẳng định:

“Làng” và “Vợ chồng A Phủ” là hai tác phẩm xuất sắc của văn học Việt Nam.

Cả hai tác phẩm đều có giá trị nội dung và nghệ thuật sâu sắc.

2. Liên hệ bản thân:

Qua hai tác phẩm, em hiểu thêm về hiện thực xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến.

Em thêm yêu quê hương, đất nước và trân trọng giá trị của tự do, độc lập.

Cảm ơn các thầy cô giáo và các bạn đã lắng nghe!

Yếu tố kỳ ảo trong các tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” và “Trên đỉnh non Tản” đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo cho tác phẩm.

Trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, yếu tố kỳ ảo xuất hiện qua những sự kiện và nhân vật liên quan đến thế giới tâm linh như Thổ Công, đức Thánh Tản Viên, và các hồn ma. Câu chuyện xoay quanh Ngô Tử Văn, một người cương trực, đã dám đốt đền để trừ tà, sau đó phải đối mặt với những hậu quả từ thế giới tâm linh. Yếu tố kỳ ảo ở đây giúp làm nổi bật tinh thần dũng cảm và lòng công bằng, đồng thời phản ánh niềm tin vào công lý và chính nghĩa sẽ chiến thắng cái ác.

“Trên đỉnh non Tản” của Nguyễn Tuân lại mang đến một không gian kỳ bí và huyền thoại của núi Tản Viên với những nhân vật kì ảo. Yếu tố kỳ ảo ở đây giúp tăng cường sự hùng vĩ và thiêng liêng của núi Tản, đồng thời tạo nên một bức tranh sinh động về sự giao thoa giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện thực và huyền thoại.

Như vậy, yếu tố kỳ ảo trong cả hai tác phẩm không chỉ làm phong phú thêm cho cốt truyện mà còn góp phần thể hiện quan điểm và thông điệp của tác giả, đồng thời tạo ra một không gian độc đáo để người đọc có thể thả hồn mình vào thế giới của truyện.

Yếu tố kỳ ảo trong các tác phẩm “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” và “Trên đỉnh non Tản” đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo cho tác phẩm.

Trong “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”, yếu tố kỳ ảo xuất hiện qua những sự kiện và nhân vật liên quan đến thế giới tâm linh như Thổ Công, đức Thánh Tản Viên, và các hồn ma. Câu chuyện xoay quanh Ngô Tử Văn, một người cương trực, đã dám đốt đền để trừ tà, sau đó phải đối mặt với những hậu quả từ thế giới tâm linh. Yếu tố kỳ ảo ở đây giúp làm nổi bật tinh thần dũng cảm và lòng công bằng, đồng thời phản ánh niềm tin vào công lý và chính nghĩa sẽ chiến thắng cái ác.

“Trên đỉnh non Tản” của Nguyễn Tuân lại mang đến một không gian kỳ bí và huyền thoại của núi Tản Viên với những nhân vật kì ảo. Yếu tố kỳ ảo ở đây giúp tăng cường sự hùng vĩ và thiêng liêng của núi Tản, đồng thời tạo nên một bức tranh sinh động về sự giao thoa giữa con người và thiên nhiên, giữa hiện thực và huyền thoại.

Như vậy, yếu tố kỳ ảo trong cả hai tác phẩm không chỉ làm phong phú thêm cho cốt truyện mà còn góp phần thể hiện quan điểm và thông điệp của tác giả, đồng thời tạo ra một không gian độc đáo để người đọc có thể thả hồn mình vào thế giới của truyện.

Lời giải 2:

Lời giải 2:

Lời giải 2:

Lời giải 2:

Bước 1: Chuẩn bị nói

Bạn có thể thể chọn đề tài nói trùng với đề tài bài viết đã thực hiện hoặc một đề tài khác.

Bài nói của tôi nhằm mục đích gì (mang lại lợi ích gì cho người nghe)? Tôi sẽ nói trong một không gian thế nào (có cần các phương tiện kĩ thuật như âm thanh, ánh sáng,…); trong thời gian bao lâu? Người nghe tôi nói có thể gồm (những) đối tượng nào? Trên cơ sở đó, lựa chọn tăng giảm nội dung nói, cách thức thực hiện bài nói cho phù hợp.

Tìm ý, lập dàn ý

Thực hiện việc tìm ý như đã thực hiện ở Bài 1. Lưu ý:

– Nếu đề tài bài nói trùng với bài viết, bạn có thể sử dụng dàn bài của bài viết và điều chỉnh cho phù hợp với mục đích thời gian nói, đối tượng người nghe,…

– Nếu đề tài ài nói khác với đề tài bài viết, bạn cần thực hiện chu đáo khâu Tìm ý làm cơ sở cho khâu lập dàn ý.

Bước 2: Trình bày bài nói

Tham khảo cách hướng dẫn làm bài ở Bài 1

Xin chào tất cả các bạn. Các bạn thân mến! Nơi nghệ thuật ta kiếm tìm hiện thực ở những góc nhìn khác. Những góc nhìn mà ở nơi ấy hiện thực được toàn vẹn là chính nó với những góc khuất, những niềm đau và cũng là chính nó với những điều đẹp đẽ và cao cả. Để rồi giữa những hiện thực được nhìn nhận ấy, ta nuôi dưỡng nơi mình một khát vọng được sống và được yêu thương, một niềm tin vào chính mình và cuộc đời. Nếu dưới ngòi bút của Thạch Lam giữa những ngày đất nước chưa tìm lại được độc lập, hiện thực hiện lên tựa như cảnh phố huyện nghèo chỉ sáng chói lúc con tàu vụt qua thì dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu giữa những ngày đất nước vẫn chìm đắm sau ánh hào quang mà cuộc chiến để lại, những điều ta ngỡ là tất cả lại đổ vỡ trước ánh nhìn cận cảnh.

Có người từng nói, nhà văn là những nhà thư ký trung thành của thời đại. Hai bức tranh về hiện thực được dựng xây bởi Thạch Lam và Nguyễn Minh Châu có lẽ cũng đem theo hiện thực lịch sử ấy.

Thạch Lam khắc họa lên khung cảnh phố huyện nghèo, nơi con người khó khăn kiếm lấy cho mình chút gì đó để sống qua ngày. Câu truyện bắt đầu với ánh chiều dần tắt, những cửa hàng nhỏ lên đèn, những ánh sáng leo lắt khiến cho con dường một bên sáng một bên tối, tất cả tựa như bị nuốt chửng trước khoảnh khắc ngày tàn. Cảm nhận về ánh sáng mong manh hơn trước sự rệu rã nơi con người. Có lẽ nỗi đói khổ, sự tuần hoàn yên ả nơi phố huyện đã lấy đi nơi họ những khát vọng về một ánh sáng. Những kiếp đời sống mòn trước ngưỡng cửa của hiện thực. Tiếng cười dài của bà cụ Thi vang vọng khắp phố huyện. Tiếng cười của những cơn say, tiếng cười của những nỗi ám ảnh về kiếp sống rệu rã mỏi mệt. Sự chán nản của chị Tý dẫu dọn hàng sớm hay muộn thì có khác gì, sự im lặng của nhà bác hát sẩm khi khác chưa bước tới, cái bóng của bác phở Siêu đổ dài trước ánh lửa. Bức tranh về hiện thực phố huyện ở những năm đất nước chưa lấy được lại độc lập hiện lên trước mắt người đọc, một bức tranh buồn, mỏi mệt, rệu rã.

Bức tranh đầu tiên Nguyễn Minh Châu đem tới trước mắt người đọc lại là một bức tranh rất đẹp. Bức tranh khiến Phùng ngỡ đó là mục đích của cả chuyến đi dài, là điều mà nghệ thuật hướng tới. Con thuyền nơi ngoài xa đẹp và yên bình trên mặt biển mờ sương. Cả gia đình ngồi im lặng trên chiếc thuyền nhỏ. Tất cả khắc tạc lên một vẻ đẹp toàn bích. Có lẽ đó cũng là bức tranh của đất nước sau những năm giành lại được độc lập. Chúng ta sống giữa những hào quang sau cuộc chiến, những hạnh phúc sau khi nhận được chiến thắng, tựa như phùng khoảnh khắc nhìn thấy con tàu giữa bóng sương mờ, anh cả thấy trái tim mình tự như bị bóp chặt.

Nhưng hiện thực không chỉ nằm nơi những bề nổi dễ thấy. Hiện thực nằm nơi chúng được đổ bóng. Nơi chúng được cho một khoảng không để trọn vẹn là chính chúng.

Phố huyện nghèo nơi những áng văn của Thạch Lam như được thắp lên một niềm hi vọng khi đoàn tàu đến. Đoàn tàu tựa như một Hà Nội đã xa trong chị em Liên, đoàn tàu tựa như thứ ánh sáng có thể xua đi bóng đêm nơi phố huyện nghèo. Cảm thức về một Hà Nội, về một cuộc sống đa sắc màu dường như nuôi dưỡng trong chị em Liên và những người đợi chờ con tàu ấy một khát vọng. Một khát vọng hướng tới ánh sáng, một khát vọng chấm dứt những rệu rã và mỏi mệt. Tiềm ẩn sau bức tranh phố huyện nghèo là một khát vọng, một khát vọng được hướng tới ánh sáng, thoát khỏi sự bao trùm của bóng đêm.

Con thuyền ngoài xa nơi áng văn của Nguyễn Minh Châu hiện lên rõ nét trước ánh nhìn cận cảnh. Phùng chứng kiến cảnh từng người trên chiếc thuyền ấy cố gắng đánh đập thậm chí lấy đi mạng sống của nhau. Người chồng đánh vợ mình và người đàn bà không làm gì ngoài chịu đựng trong khi đứa trẻ có gắng giết cha của mình. Một hiện thực trần trụi, một hiện thực không được giải quyết sau hai chữ độc lập một hiện thực không được nhìn nhận dưới hai chữ dân chủ bình đẳng. Một hiện thực trái ngược với bức ảnh anh đã định nghĩa nó là nghệ thuật. Nghệ thuật là gì nếu khi đối diện với hiện thực, chúng đổ nát và méo mó. Độc lập là gì nếu chúng chỉ là cái cớ để ta chìm đắm trong những gì đã qua.

Khắc họa hai bức tranh về hiện thực, hai tác phẩm đem đến cho người đọc những điểm nhìn mới và đem đến những thông điệp lịch sử. Có lẽ chỉ dưới cái nhìn của nghệ thuật, những ngày tháng đã qua mới có thể hiện lên toàn vẹn là chính nó với những hiện thực bề nổi và những tiềm lực.

Trên đây là phần trình bày của tôi về bài nói. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các bạn. Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe.

Bước 3: Trao đổi, đánh giá

Khi trao đổi, đánh giá cả trong vai người nói lẫn tư cách người nghe, bận đều cần phải tỏ rõ thái độ lịch sự, cộng tác,…

Bạn có thể sử dụng Bảng kiểm kĩ năng so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (Bài 1) để tự đánh giá và rút kinh nghiệm cả trong vai người nói lẫn người nghe.

Bước 1: Chuẩn bị nói

Bạn có thể thể chọn đề tài nói trùng với đề tài bài viết đã thực hiện hoặc một đề tài khác.

Bài nói của tôi nhằm mục đích gì (mang lại lợi ích gì cho người nghe)? Tôi sẽ nói trong một không gian thế nào (có cần các phương tiện kĩ thuật như âm thanh, ánh sáng,…); trong thời gian bao lâu? Người nghe tôi nói có thể gồm (những) đối tượng nào? Trên cơ sở đó, lựa chọn tăng giảm nội dung nói, cách thức thực hiện bài nói cho phù hợp.

Tìm ý, lập dàn ý

Thực hiện việc tìm ý như đã thực hiện ở Bài 1. Lưu ý:

– Nếu đề tài bài nói trùng với bài viết, bạn có thể sử dụng dàn bài của bài viết và điều chỉnh cho phù hợp với mục đích thời gian nói, đối tượng người nghe,…

– Nếu đề tài ài nói khác với đề tài bài viết, bạn cần thực hiện chu đáo khâu Tìm ý làm cơ sở cho khâu lập dàn ý.

Bước 2: Trình bày bài nói

Tham khảo cách hướng dẫn làm bài ở Bài 1

Xin chào tất cả các bạn. Các bạn thân mến! Nơi nghệ thuật ta kiếm tìm hiện thực ở những góc nhìn khác. Những góc nhìn mà ở nơi ấy hiện thực được toàn vẹn là chính nó với những góc khuất, những niềm đau và cũng là chính nó với những điều đẹp đẽ và cao cả. Để rồi giữa những hiện thực được nhìn nhận ấy, ta nuôi dưỡng nơi mình một khát vọng được sống và được yêu thương, một niềm tin vào chính mình và cuộc đời. Nếu dưới ngòi bút của Thạch Lam giữa những ngày đất nước chưa tìm lại được độc lập, hiện thực hiện lên tựa như cảnh phố huyện nghèo chỉ sáng chói lúc con tàu vụt qua thì dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu giữa những ngày đất nước vẫn chìm đắm sau ánh hào quang mà cuộc chiến để lại, những điều ta ngỡ là tất cả lại đổ vỡ trước ánh nhìn cận cảnh.

Có người từng nói, nhà văn là những nhà thư ký trung thành của thời đại. Hai bức tranh về hiện thực được dựng xây bởi Thạch Lam và Nguyễn Minh Châu có lẽ cũng đem theo hiện thực lịch sử ấy.

Thạch Lam khắc họa lên khung cảnh phố huyện nghèo, nơi con người khó khăn kiếm lấy cho mình chút gì đó để sống qua ngày. Câu truyện bắt đầu với ánh chiều dần tắt, những cửa hàng nhỏ lên đèn, những ánh sáng leo lắt khiến cho con dường một bên sáng một bên tối, tất cả tựa như bị nuốt chửng trước khoảnh khắc ngày tàn. Cảm nhận về ánh sáng mong manh hơn trước sự rệu rã nơi con người. Có lẽ nỗi đói khổ, sự tuần hoàn yên ả nơi phố huyện đã lấy đi nơi họ những khát vọng về một ánh sáng. Những kiếp đời sống mòn trước ngưỡng cửa của hiện thực. Tiếng cười dài của bà cụ Thi vang vọng khắp phố huyện. Tiếng cười của những cơn say, tiếng cười của những nỗi ám ảnh về kiếp sống rệu rã mỏi mệt. Sự chán nản của chị Tý dẫu dọn hàng sớm hay muộn thì có khác gì, sự im lặng của nhà bác hát sẩm khi khác chưa bước tới, cái bóng của bác phở Siêu đổ dài trước ánh lửa. Bức tranh về hiện thực phố huyện ở những năm đất nước chưa lấy được lại độc lập hiện lên trước mắt người đọc, một bức tranh buồn, mỏi mệt, rệu rã.

Bức tranh đầu tiên Nguyễn Minh Châu đem tới trước mắt người đọc lại là một bức tranh rất đẹp. Bức tranh khiến Phùng ngỡ đó là mục đích của cả chuyến đi dài, là điều mà nghệ thuật hướng tới. Con thuyền nơi ngoài xa đẹp và yên bình trên mặt biển mờ sương. Cả gia đình ngồi im lặng trên chiếc thuyền nhỏ. Tất cả khắc tạc lên một vẻ đẹp toàn bích. Có lẽ đó cũng là bức tranh của đất nước sau những năm giành lại được độc lập. Chúng ta sống giữa những hào quang sau cuộc chiến, những hạnh phúc sau khi nhận được chiến thắng, tựa như phùng khoảnh khắc nhìn thấy con tàu giữa bóng sương mờ, anh cả thấy trái tim mình tự như bị bóp chặt.

Nhưng hiện thực không chỉ nằm nơi những bề nổi dễ thấy. Hiện thực nằm nơi chúng được đổ bóng. Nơi chúng được cho một khoảng không để trọn vẹn là chính chúng.

Phố huyện nghèo nơi những áng văn của Thạch Lam như được thắp lên một niềm hi vọng khi đoàn tàu đến. Đoàn tàu tựa như một Hà Nội đã xa trong chị em Liên, đoàn tàu tựa như thứ ánh sáng có thể xua đi bóng đêm nơi phố huyện nghèo. Cảm thức về một Hà Nội, về một cuộc sống đa sắc màu dường như nuôi dưỡng trong chị em Liên và những người đợi chờ con tàu ấy một khát vọng. Một khát vọng hướng tới ánh sáng, một khát vọng chấm dứt những rệu rã và mỏi mệt. Tiềm ẩn sau bức tranh phố huyện nghèo là một khát vọng, một khát vọng được hướng tới ánh sáng, thoát khỏi sự bao trùm của bóng đêm.

Con thuyền ngoài xa nơi áng văn của Nguyễn Minh Châu hiện lên rõ nét trước ánh nhìn cận cảnh. Phùng chứng kiến cảnh từng người trên chiếc thuyền ấy cố gắng đánh đập thậm chí lấy đi mạng sống của nhau. Người chồng đánh vợ mình và người đàn bà không làm gì ngoài chịu đựng trong khi đứa trẻ có gắng giết cha của mình. Một hiện thực trần trụi, một hiện thực không được giải quyết sau hai chữ độc lập một hiện thực không được nhìn nhận dưới hai chữ dân chủ bình đẳng. Một hiện thực trái ngược với bức ảnh anh đã định nghĩa nó là nghệ thuật. Nghệ thuật là gì nếu khi đối diện với hiện thực, chúng đổ nát và méo mó. Độc lập là gì nếu chúng chỉ là cái cớ để ta chìm đắm trong những gì đã qua.

Khắc họa hai bức tranh về hiện thực, hai tác phẩm đem đến cho người đọc những điểm nhìn mới và đem đến những thông điệp lịch sử. Có lẽ chỉ dưới cái nhìn của nghệ thuật, những ngày tháng đã qua mới có thể hiện lên toàn vẹn là chính nó với những hiện thực bề nổi và những tiềm lực.

Trên đây là phần trình bày của tôi về bài nói. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các bạn. Cảm ơn các bạn đã chú ý lắng nghe.

Bước 3: Trao đổi, đánh giá

Khi trao đổi, đánh giá cả trong vai người nói lẫn tư cách người nghe, bận đều cần phải tỏ rõ thái độ lịch sự, cộng tác,…

Bạn có thể sử dụng Bảng kiểm kĩ năng so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (Bài 1) để tự đánh giá và rút kinh nghiệm cả trong vai người nói lẫn người nghe.

* Chuyện chức phán sự đền Tản Viên:

– Không gian kì ảo: Truyện đưa người đọc vào thế giới kì ảo với các vị thần (Thổ Công, đức Thánh Tản Viên), ma quỷ (Diêm Vương, hồn ma tướng giặc), và cảnh chết đi sống lại (Tử Văn chết hai ngày rồi trở về). Không gian này nối liền cõi trần và cõi âm, tạo ra sự kỳ bí và huyền ảo.

– Nhân vật kỳ ảo:

+ Hồn ma tên tướng giặc họ Thôi: Đây là nhân vật phản diện điển hình, thể hiện bất công và quan tham. Hắn đút lót tham quan, gây hại cho dân, và bị trừng phạt.

+ Thổ công: Người có lý lịch hiển hách, chết vì cần vương, được phong làm Thổ công, ban cho ngôi đền. Hành động của Thổ công thể hiện lòng hiền lành và chính trực.

+ Diêm vương: Người đứng đầu cõi âm ti, phán xử công bằng. Từ việc bị lừa gạt đến việc nhận thấy lời Tử Văn là thật, Diêm vương thể hiện sự tỉnh táo và công lý.

– Ý nghĩa: Truyện khẳng định tính dân tộc, tinh thần yêu nước, và ý chí chống nô dịch, bất công. Tác giả sử dụng yếu tố kì ảo để tạo ra một thế giới đầy biến hóa và hấp dẫn.

* Trên đỉnh non Tản:

– Không gian kì ảo: Truyện kết hợp thần linh, ma quỷ, và cảnh chết sống lại. Nhân vật chính là một người đang sống ở thế giới thực, nhưng bất ngờ bước vào không gian kỳ ảo trên đỉnh non Tản.

– Nhân vật kỳ ảo:

+ Người đàn ông: Tên người đang sống ở thế giới thực, nhưng sau khi leo đỉnh non Tản, anh ta trải qua những trải nghiệm kỳ lạ và huyền bí.

– Ý nghĩa: Truyện thể hiện sự tò mò và khám phá của con người, cũng như tầm quan trọng của việc mở rộng tầm nhìn và khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống.

Cả hai tác phẩm đều sử dụng yếu tố kì ảo để tạo ra những câu chuyện độc đáo và đầy hấp dẫn, khám phá những khía cạnh khác nhau của thế giới và con người.

* Chuyện chức phán sự đền Tản Viên:

– Không gian kì ảo: Truyện đưa người đọc vào thế giới kì ảo với các vị thần (Thổ Công, đức Thánh Tản Viên), ma quỷ (Diêm Vương, hồn ma tướng giặc), và cảnh chết đi sống lại (Tử Văn chết hai ngày rồi trở về). Không gian này nối liền cõi trần và cõi âm, tạo ra sự kỳ bí và huyền ảo.

– Nhân vật kỳ ảo:

+ Hồn ma tên tướng giặc họ Thôi: Đây là nhân vật phản diện điển hình, thể hiện bất công và quan tham. Hắn đút lót tham quan, gây hại cho dân, và bị trừng phạt.

+ Thổ công: Người có lý lịch hiển hách, chết vì cần vương, được phong làm Thổ công, ban cho ngôi đền. Hành động của Thổ công thể hiện lòng hiền lành và chính trực.

+ Diêm vương: Người đứng đầu cõi âm ti, phán xử công bằng. Từ việc bị lừa gạt đến việc nhận thấy lời Tử Văn là thật, Diêm vương thể hiện sự tỉnh táo và công lý.

– Ý nghĩa: Truyện khẳng định tính dân tộc, tinh thần yêu nước, và ý chí chống nô dịch, bất công. Tác giả sử dụng yếu tố kì ảo để tạo ra một thế giới đầy biến hóa và hấp dẫn.

* Trên đỉnh non Tản:

– Không gian kì ảo: Truyện kết hợp thần linh, ma quỷ, và cảnh chết sống lại. Nhân vật chính là một người đang sống ở thế giới thực, nhưng bất ngờ bước vào không gian kỳ ảo trên đỉnh non Tản.

– Nhân vật kỳ ảo:

+ Người đàn ông: Tên người đang sống ở thế giới thực, nhưng sau khi leo đỉnh non Tản, anh ta trải qua những trải nghiệm kỳ lạ và huyền bí.

– Ý nghĩa: Truyện thể hiện sự tò mò và khám phá của con người, cũng như tầm quan trọng của việc mở rộng tầm nhìn và khám phá những điều mới mẻ trong cuộc sống.

Cả hai tác phẩm đều sử dụng yếu tố kì ảo để tạo ra những câu chuyện độc đáo và đầy hấp dẫn, khám phá những khía cạnh khác nhau của thế giới và con người.