Soạn bài Nói và nghe: So sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ

Đề bài trang 26 Ngữ văn 12 Tập 1: Câu lạc bộ Văn học của trường bạn tổ chức buổi tọa đàm với chủ đề Những sắc điệu phong phú của thi ca. Bạn hãy chuẩn bị bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ để tham gia buổi tọa đàm.

Lời giải 1:

Bài trình bày so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) và “Tây Tiến” (Quang Dũng)

Kính thưa các thầy cô giáo, các bạn học sinh!

Hôm nay, em xin trình bày bài so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ: “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) và “Tây Tiến” (Quang Dũng) để tham gia buổi toạ đàm với chủ đề “Những sắc điệu phong phú của thi ca”.

I. Giới thiệu:

“Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử là một trong những bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ca “say đắm, nồng nàn” của ông. Bài thơ được sáng tác vào năm 1938, khi tác giả đang phải điều trị bệnh phong tại Bệnh viện Quy Nhơn.

“Tây Tiến” của Quang Dũng là một trong những bài thơ hay nhất về người lính Tây Tiến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được sáng tác vào năm 1948, khi tác giả đã rời đơn vị Tây Tiến để nhận nhiệm vụ mới.

II. So sánh:

1. Về nội dung:

“Đây thôn Vĩ Dạ”:

Bức tranh thơ mộng, huyền ảo của xứ Huế: dòng sông Hương êm đềm, những vầng trăng lung linh, những bông hoa khẽ khàng nở.

Nỗi niềm tâm sự của thi nhân trước cảnh đẹp quê hương: khát khao yêu thương, sự hòa hợp với thiên nhiên và con người, nỗi buồn sầu, cô đơn, u hoài.

“Tây Tiến”:

Vẻ đẹp hùng vĩ, tráng lệ của núi rừng Tây Bắc: những con dốc cao, những thác nước dữ dội, những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn.

Hình ảnh người lính Tây Tiến với khí phách anh hùng: dũng cảm, gan dạ, lạc quan, yêu đời, đồng chí, đồng đội gắn bó.

2. Về nghệ thuật:

“Đây thôn Vĩ Dạ”:

Ngôn ngữ thơ giàu sức gợi cảm, sử dụng nhiều phép tu từ như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa.

Hình ảnh thơ tinh tế, sáng tạo, mang đậm dấu ấn cá nhân của tác giả.

Giọng điệu thơ du dương, bâng khuâng, thể hiện tâm trạng của thi nhân.

“Tây Tiến”:

Ngôn ngữ thơ giàu sức biểu cảm, sử dụng nhiều phép tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ.

Hình ảnh thơ hùng tráng, khoáng đạt, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Tây Bắc.

Giọng điệu thơ hào hùng, bi tráng, thể hiện niềm tự hào và sự tiếc thương của tác giả.

III. Đánh giá:

Hai tác phẩm đều là những bài thơ hay, tiêu biểu cho phong cách sáng tác của hai tác giả.

Mỗi tác phẩm đều mang vẻ đẹp riêng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước theo cách riêng của mình.

“Đây thôn Vĩ Dạ” thể hiện tình yêu quê hương xứ Huế da diết, nồng nàn của Hàn Mặc Tử.

“Tây Tiến” thể hiện tình yêu quê hương Tây Bắc và hình ảnh người lính Tây Tiến với khí phách anh hùng của Quang Dũng.

IV. Kết luận:

Hai tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” và “Tây Tiến” là những viên ngọc quý trong kho tàng thi ca Việt Nam.

Hai tác phẩm đã góp phần làm phong phú thêm những sắc điệu của thi ca Việt Nam.

Lời giải 2:

Chào thầy/ cô và các bạn. Hôm nay, em xin trình bày phần so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ mà để lại cho em rất nhiều ấn tượng.

Như mọi người đã biết, tình yêu là đề tài muôn thuở của văn chương. Tình yêu là một loại tình cảm đặc biệt trong tâm hồn mỗi người. Sự sống của tình yêu là nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong tình yêu cũng đa sắc thái và nhiều cung bậc. Những sắc thái và cung bậc ấy được thể hiện rất đẹp qua hai trích đoạn trong Tương tư của Nguyễn Bính và Việt Bắc của Tố Hữu. Nguyễn Bính thì bày tỏ nỗi nhớ nhung trong tình yêu đôi lứa, Tố Hữu thì bày tỏ nỗi niềm da diết khôn nguôi với quê hương cách mạng biết bao nghĩa tình.

Cũng như các nhà thơ lãng mạn cùng thời, Nguyễn Bính say mê với đề tài tình yêu, nhưng tình yêu trong thơ Nguyễn Bính có một lối nói riêng. “Cái tôi” trong thơ Nguyễn Bính không nổi lên mà tan hoà vào không gian đồng quê bằng biện pháp ẩn dụ nhân hoá như trong ca dao:

“Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông

Một người chín nhớ mười mong một người

Gió mưa là bệnh của giời,

Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”

Tâm trạng tương tư của chàng trai quê được bộc lộ trong bài thơ “Tương tư” thành những nhớ mong da diết, trĩu nặng. Nỗi niềm ấy được xem như một quy luật tự nhiên không thể cưỡng lại, một thứ “tâm bệnh” khó chữa của người đang yêu. Niềm mong nhớ gắn liền với khung cảnh làng quê khiến cho cả không gian như cũng nhuốm đầy nỗi tương tư.

Từ nỗi nhớ người yêu luôn thường trực, cháy bỏng trong lòng, cái tôi trữ tình suy ngẫm, liên tưởng, nhận diện nỗi nhớ. Người ta thường nói nỗi nhớ là sự sống của tình yêu, còn Nguyễn Bính thì quy kết thành bệnh. Cái bệnh kinh niên sinh ra từ tâm lí của con người, không ai nói mình yêu mà không nhớ, nhớ mà không yêu. Yêu là nhớ, đó là quy luật. Quy luật của lòng người cũng như quy luật của tự nhiên: “Gió mưa là bệnh của giời/ Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”. Trời đất không thể không có gió mưa, sống không thể “không nhớ, không thương một kẻ nào”. Một sự thừa nhận thành thật, ý vị khẳng định tính tất yếu của thiên nhiên cũng như của tình yêu – lòng người.

Về nghệ thuật, nhà thơ sử dụng các hình ảnh sóng đôi: Đông – Đoài, gió – mưa, tôi – nàng… tô đậm khát vọng lứa đôi. Thể thơ lục bát cùng với các hình thức diễn đạt, cách dùng địa danh quen thuộc của ca dao dân ca khiến đoạn thơ có vẻ đẹp dung dị, duyên dáng dễ đi vào lòng người. Chất chân quê của hồn thơ Nguyễn Bính được biểu hiện rất tài tình, khiến đọc lên người ta cứ ngỡ ca dao chứ không phải thơ hiện đại, và mỗi người đều mượn nó để nói hộ lòng mình. Đó chẳng phải là những câu thơ bất hủ đó sao!

Thể thơ lục bát thấm đượm phong vị ca dao. Chất liệu ngôn từ trong bài “Tương tư” rất chân quê với những địa danh, thành ngữ gần gũi, cách tổ chức lời thơ độc đáo, sử dụng nhuần nhuyễn nhiều biện pháp tu từ: hoán dụ, nhân hoá, đối sánh, tăng tiến, khoa trương.

Như trên đã nói, tình yêu trong mỗi con người là một xúc cảm tuyệt vời, nỗi nhớ trong tình yêu cũng đa sắc thái, nhiều cung bậc. Nếu Nguyễn Bính giãi bày nỗi nhớ trong tình yêu đôi lứa thì Tố Hữu trong đoạn thơ này lại diễn tả niềm da diết khôn nguôi với Việt Bắc – quê hương cách mạng biết bao nghĩa tình:

“Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đỉnh núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về”

Suốt mười lăm năm “Từ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh” cho đến lúc cuộc kháng Pháp vĩ đại thắng lợi, cán bộ, chiến sĩ cách mạng đã gắn bó cùng đồng bào Việt Bắc đánh giặc “Bát cơm chấm muối, mối thù nặng vai… Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng’’, nay chiến thắng trở về xuôi làm sao có thể quên những kỉ niệm sâu nặng như thế!

Tố Hữu đã diễn tả nỗi niềm thương nhớ day dứt, khôn nguôi của người đi kẻ ở cũng thường trực, da diết như trong nỗi nhớ của tình yêu đôi lứa vậy. Nhưng nỗi nhớ không dành riêng cho một đối tượng mà nỗi nhớ dành cho tất cả đồng bào và thiên nhiên Việt Bắc. Nỗi nhớ giăng mắc khắp không gian, lung linh bao kỉ niệm: Nhớ những đêm trăng treo trên đầu núi, những buổi chiều nắng toả vàng rộng khắp trên nương, những bản làng ảo mờ trong sương khói, đặc biệt là bóng dáng của “người thương đi về”quây quần bên bếp lửa mỗi đêm đông, cảnh – người quyện hoà thanh bình, yên ả, ấm áp.

“Việt Bắc” của Tố Hữu đã thể hiện nỗi nhớ đằm thắm, sâu nặng của người cán bộ kháng chiến dành cho Việt Bắc, trong đó chan hòa tình nghĩa riêng chung. Hiện lên trong nỗi nhớ ấy là hình ảnh chiến khu Việt Bắc thân thương, với cảnh vật bình dị mà thơ mộng, với nhịp sống đơn sơ mà êm đềm, đầm ấm. Thể thơ lục bát kết hợp nhuần nhuyễn chất cổ điển và chất dân gian, nhịp điệu linh hoạt uyển chuyển, âm hưởng tha thiết, ngọt ngào. Hình ảnh thơ giản dị mà gợi cảm, cách ví von quen thuộc mà vẫn độc đáo, cách tổ chức lời thơ với phép tiểu đối, phép điệp cân xứng, khéo léo đã khiến cho độc giả vô cùng ấn tượng bởi những giá trị mà bài thơ mang lại.

Tuy ra đời ở hai thời điểm khác nhau nhưng hai bài thơ đều đều thể hiện nỗi nhớ da diết, sâu nặng, sử dụng thể thơ lục bát điêu luyện.

Song, bên cạnh đó, dù viết cùng về một đề tài nhưng giữa hai bài thơ vẫn có những điểm khác biệt. Bài thơ “Tương tư” là nỗi nhớ của tình yêu lứa đôi, gắn với không gian làng quê Bắc Bộ, vừa bày tỏ vừa “lí sự” về tương tư, với cách đối sánh táo bạo còn nỗi nhớ được thể hiện trong bài “Việt Bắc” là nỗi nhớ của tình cảm cách mạng, gắn với không gian núi rừng Việt Bắc, nghiêng hẳn về bộc bạch tâm tình, với cách ví von duyên dáng.

Thơ là tiếng tơ lòng, mỗi khi rung động trước thiên nhiên, đất nước, con người, tiếng tơ ấy lại cất lên tiếng hát của tâm hồn làm xúc động biết bao người đọc. Cảm ơn các nhà thơ đã cho ta biết yêu, biết rung động trước cái đẹp của cuộc đời qua những trang thơ.

Trên đây là toàn bộ bài thuyết trình của em, cảm ơn thầy/ cô và các bạn đã lắng nghe. Em mong nhận được góp ý của thầy cô và các bạn về bài trình bày của mình. Em xin cảm ơn ạ!