Soạn bài Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện/ kí hoặc kịch

Đề bài (trang 96 sgk Ngữ văn 12 Tập 1): Viết bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện, kí hoặc kịch mà theo bạn là có những điểm tương đồng/ khác biệt.

Lời giải 1:

Dàn ý gợi ý: So sánh hai tác phẩm “Làng” (Kim Lân) và “Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài):

I. Mở bài:

Giới thiệu hai tác phẩm:

“Làng” (Kim Lân):

Tác giả: Kim Lân.

Hoàn cảnh sáng tác: 1948.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến qua nhân vật ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài):

Tác giả: Tô Hoài.

Hoàn cảnh sáng tác: 1952.

Thể loại: truyện ngắn.

Nội dung chính: Phản ánh cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị qua nhân vật Mị và A Phủ.

II. Thân bài:

So sánh:

Về chủ đề, nội dung:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều phản ánh hiện thực xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến với những bất công, áp bức.

Cả hai tác phẩm đều thể hiện niềm tin vào tương lai tươi sáng của người nông dân và người dân tộc thiểu số.

Khác nhau:

“Làng” tập trung vào bi kịch tinh thần của người nông dân khi bị giặc Pháp cướp đi quê hương.

“Vợ chồng A Phủ” tập trung vào cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

Về nghệ thuật:

Giống nhau:

Cả hai tác phẩm đều sử dụng những phương pháp nghệ thuật chung như miêu tả, biểu cảm, …

Cả hai tác phẩm đều có ngôn ngữ giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống.

Khác nhau:

“Làng” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả tâm lí nhân vật để thể hiện bi kịch tinh thần của ông Hai.

“Vợ chồng A Phủ” sử dụng nhiều chi tiết miêu tả cảnh thiên nhiên để làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của Mị và A Phủ.

Đánh giá:

Khẳng định giá trị của hai tác phẩm:

“Làng” là một tác phẩm hiện thực xuất sắc, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc.

“Vợ chồng A Phủ” là một bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác của cường quyền và giai cấp thống trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sức sống tiềm tàng của người dân tộc thiểu số.

Nêu cảm nhận riêng của bản thân về hai tác phẩm:

Cả hai tác phẩm đều để lại cho tôi những ấn tượng sâu sắc.

“Làng” giúp tôi hiểu rõ hơn về bi kịch tinh thần của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thực dân nửa phong kiến.

“Vợ chồng A Phủ” giúp tôi hiểu rõ hơn về cuộc sống khổ cực và quá trình thức tỉnh của người dân tộc thiểu số dưới ách áp bức của cường quyền và giai cấp thống trị.

III. Kết bài:

Khái quát lại những điểm chung và khác nhau của hai tác phẩm.

Nêu ý nghĩa của việc so sánh hai tác phẩm:

Giúp chúng ta hiểu rõ hơn về giá trị nội dung và nghệ thuật của mỗi tác phẩm.

Giúp chúng ta thấy được sự phát triển của văn học Việt Nam trong giai đoạn 1945 – 1954.

Lời giải 2:

Bước 1: Chuẩn bị viết

Bạn thực hiện bước chuẩn bị viết như với các bài viết trước. Riêng với khâu xác định đề tài, do đề bài trên có độ mở rất rộng, cần làm rõ mục đích của việc so sánh nhằm xác định được đề tài cụ thể. Chẳng hạn:

– Tùy bút Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường) – những điểm tương đồng/ khác biệt nhìn từ thể loại và phong cách.

– Vai trò, tác dụng của yếu tố kì ảo trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Nguyễn Dữ) và Trên đỉnh non Tản (Nguyễn Tuân).

– …

Bước 2: Tìm ý, lập dàn ý

– Câu hỏi cần đặt ra và trả lời trước hết để tìm ý là: Việc so sánh khi thực hiện bài viết nhằm mục đích gì? (chỉ ra những điểm tương đồng/ khác biệt; đúc kết đặc trưng, quy luật của một vài thể loại; chỉ ra sự thay đổi, phát triển trong sáng tác của một tác giả; chỉ ra điểm kế thừa và những điểm sáng tạo trong tác phẩm tiếp nhận, cải biên,…).

– Tiếp theo, trả lời câu hỏi: Giữa hai tác phẩm có những điểm tương đồng và khác biệt đáng lưu ý nào về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật? Sự tương đồng/ khác biệt đó là do đâu và có ý nghĩa, giá trị như thế nào?

Chẳng hạn, để tìm ý cho bài viết ở phần Đọc ngữ liệu tham khảo trên, từ câu hỏi trên, người viết đã chỉ ra một số điểm tương đồng/ khác biệt trong cách chọn đề tài sử dụng thể loại, cách quan sát miêu tả, huy động kiến thức vốn sống, sử dụng ngôn từ, thể hiện cái tôi chữ tình,… Trên cơ sở đó, đánh giá đóng góp của từng tác giả, lí giải bằng đặc điểm của thể loại và nét độc đáo trong lối viết (phong cách) của mỗi tác giả.

Có nhiều cách tổ chức, sắp xếp các ý đã tìm được thành một dàn ý. Nhưng dù theo cách nào thì cũng phải đáp ứng được yêu cầu của đề bài, sơ đồ dàn ý chung của kiểu bài. Trong đó, cần bám sát yêu cầu của đề bài, mục đích so sánh, đánh giá đã được định hướng để tập trung lập dàn ý cho phần thân bài. Ví dụ: có thể sắp xếp các ý đã tìm theo hai cách:

+ Cách 1: nêu các điểm tương đồng (luận điểm 1); nêu các điểm khác biệt (luận điểm 2)

+ Cách 2: kết hợp nêu sự tương đồng, khác biệt trong từng khía cạnh của hai văn bản như đề tài, chủ đề (luận điểm 1); bút pháp nghệ thuật (luận điểm 2),…

Bước 3: Viết bài

Khi viết bài, cần lưu ý:

– Làm rõ những điểm tương đồng, khác biệt giữa hai tác phẩm bằng cách dùng một số mẫu câu so sánh như: “nếu… thì…”; “tác phẩm A đã cho thấy… còn tác phẩm B…”; “trong khi tác phẩm A… thì tác phẩm B…”;…

– Có thái độ khách quan, tránh lỗi diễn đạt cảm tính, chủ quan trong so sánh, đánh giá (ví dụ lập luận theo lối hạ thấp tác phẩm này để đề cao tác phẩm kia,…)

Bài viết tham khảo:

Nơi nghệ thuật ta kiếm tìm hiện thực ở những góc nhìn khác. Những góc nhìn mà ở nơi ấy hiện thực được toàn vẹn là chính nó với những góc khuất, những niềm đau và cũng là chính nó với những điều đẹp đẽ và cao cả. Để rồi giữa những hiện thực được nhìn nhận ấy, ta nuôi dưỡng nơi mình một khát vọng được sống và được yêu thương, một niềm tin vào chính mình và cuộc đời. Nếu dưới ngòi bút của Thạch Lam giữa những ngày đất nước chưa tìm lại được độc lập, hiện thực hiện lên tựa như cảnh phố huyện nghèo chỉ sáng chói lúc con tàu vụt qua thì dưới ngòi bút của Nguyễn Minh Châu giữa những ngày đất nước vẫn chìm đắm sau ánh hào quang mà cuộc chiến để lại, những điều ta ngỡ là tất cả lại đổ vỡ trước ánh nhìn cận cảnh.

Có người từng nói, nhà văn là những nhà thư ký trung thành của thời đại. Hai bức tranh về hiện thực được dựng xây bởi Thạch Lam và Nguyễn Minh Châu có lẽ cũng đem theo hiện thực lịch sử ấy.

Thạch Lam khắc họa lên khung cảnh phố huyện nghèo, nơi con người khó khăn kiếm lấy cho mình chút gì đó để sống qua ngày. Câu truyện bắt đầu với ánh chiều dần tắt, những cửa hàng nhỏ lên đèn, những ánh sáng leo lắt khiến cho con dường một bên sáng một bên tối, tất cả tựa như bị nuốt chửng trước khoảnh khắc ngày tàn. Cảm nhận về ánh sáng mong manh hơn trước sự rệu rã nơi con người. Có lẽ nỗi đói khổ, sự tuần hoàn yên ả nơi phố huyện đã lấy đi nơi họ những khát vọng về một ánh sáng. Những kiếp đời sống mòn trước ngưỡng cửa của hiện thực. Tiếng cười dài của bà cụ Thi vang vọng khắp phố huyện. Tiếng cười của những cơn say, tiếng cười của những nỗi ám ảnh về kiếp sống rệu rã mỏi mệt. Sự chán nản của chị Tý dẫu dọn hàng sớm hay muộn thì có khác gì, sự im lặng của nhà bác hát sẩm khi khác chưa bước tới, cái bóng của bác phở Siêu đổ dài trước ánh lửa. Bức tranh về hiện thực phố huyện ở những năm đất nước chưa lấy được lại độc lập hiện lên trước mắt người đọc, một bức tranh buồn, mỏi mệt, rệu rã.

Bức tranh đầu tiên Nguyễn Minh Châu đem tới trước mắt người đọc lại là một bức tranh rất đẹp. Bức tranh khiến Phùng ngỡ đó là mục đích của cả chuyến đi dài, là điều mà nghệ thuật hướng tới. Con thuyền nơi ngoài xa đẹp và yên bình trên mặt biển mờ sương. Cả gia đình ngồi im lặng trên chiếc thuyền nhỏ. Tất cả khắc tạc lên một vẻ đẹp toàn bích. Có lẽ đó cũng là bức tranh của đất nước sau những năm giành lại được độc lập. Chúng ta sống giữa những hào quang sau cuộc chiến, những hạnh phúc sau khi nhận được chiến thắng, tựa như phùng khoảnh khắc nhìn thấy con tàu giữa bóng sương mờ, anh cả thấy trái tim mình tự như bị bóp chặt.

Nhưng hiện thực không chỉ nằm nơi những bề nổi dễ thấy. Hiện thực nằm nơi chúng được đổ bóng. Nơi chúng được cho một khoảng không để trọn vẹn là chính chúng.

Phố huyện nghèo nơi những áng văn của Thạch Lam như được thắp lên một niềm hi vọng khi đoàn tàu đến. Đoàn tàu tựa như một Hà Nội đã xa trong chị em Liên, đoàn tàu tựa như thứ ánh sáng có thể xua đi bóng đêm nơi phố huyện nghèo. Cảm thức về một Hà Nội, về một cuộc sống đa sắc màu dường như nuôi dưỡng trong chị em Liên và những người đợi chờ con tàu ấy một khát vọng. Một khát vọng hướng tới ánh sáng, một khát vọng chấm dứt những rệu rã và mỏi mệt. Tiềm ẩn sau bức tranh phố huyện nghèo là một khát vọng, một khát vọng được hướng tới ánh sáng, thoát khỏi sự bao trùm của bóng đêm.

Con thuyền ngoài xa nơi áng văn của Nguyễn Minh Châu hiện lên rõ nét trước ánh nhìn cận cảnh. Phùng chứng kiến cảnh từng người trên chiếc thuyền ấy cố gắng đánh đập thậm chí lấy đi mạng sống của nhau. Người chồng đánh vợ mình và người đàn bà không làm gì ngoài chịu đựng trong khi đứa trẻ có gắng giết cha của mình. Một hiện thực trần trụi, một hiện thực không được giải quyết sau hai chữ độc lập một hiện thực không được nhìn nhận dưới hai chữ dân chủ bình đẳng. Một hiện thực trái ngược với bức ảnh anh đã định nghĩa nó là nghệ thuật. Nghệ thuật là gì nếu khi đối diện với hiện thực, chúng đổ nát và méo mó. Độc lập là gì nếu chúng chỉ là cái cớ để ta chìm đắm trong những gì đã qua.

Khắc họa hai bức tranh về hiện thực, hai tác phẩm đem đến cho người đọc những điểm nhìn mới và đem đến những thông điệp lịch sử. Có lẽ chỉ dưới cái nhìn của nghệ thuật, những ngày tháng đã qua mới có thể hiện lên toàn vẹn là chính nó với những hiện thực bề nổi và những tiềm lực.

Bước 4: Xem lại và chỉnh sửa

Bạn có thể sử dụng Bảng kiểm kĩ năng so sánh, đánh giá hai tác phẩm thơ (Bài 1) để tự đánh giá bài viết của mình sau khi đã làm hoàn chỉnh.