Giới thiệu tác giả Trần Thanh Địch (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác)

Người con của xứ Huế xinh đẹp – Nhà văn Trần Thanh Đình, với tài năng trong văn chương, nhà văn đã đem gửi lòng mình cùng những suy nghĩ, cảm xúc về quê hương, đất nước và con người vào trang sách vàng để nói lên khát vọng của chính bản thân. Tham khảo bài viết giới thiệu tác giả Trần Thanh Địch (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác) để hiểu thêm về nhà vân nhé!

Tiểu sử

– Trần Thanh Địch (1912-2007): sinh ra tại Thừa Thiên Huế

– Gia đình làm quan, cha ông mất lúc ông được 5 tuổi. Anh trai của ông là Trần Thanh Đạt, từng làm Thượng thư triều đình Huế thời Bảo Đại, một anh trai khác là Trần Thanh Mai nhà phê bình –nghiên cứu văn học.

– Từ nhỏ, Trần Thanh Địch đã có niềm yêu thích với thiên nhiên, thích câu cá và bước chân vào nghề văn rất sớm

– Sau 1975, ông thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh và mất vào ngày 10 tháng 10 năm 2007, thọ 96 tuổi.

Giới thiệu tác giả Trần Thanh Địch (Tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm, phong cách sáng tác)

Sự nghiệp

– Năm 1936, ông chuyên cần đọc sách và vào Sài Gòn làm báo cùng với Thanh Nghị, Hoàng Trọng Miên, Thúc Tề, Hàn Mặc Tử

– Năm 1945, ông trở về Huế để tham gia Cách mạng tháng Tám, Đội tuyên truyền lưu động Thừa Thiên, Thường vụ Hội Văn nghệ Thừa Thiên

– Trong thời kháng chiến toàn quốc, ông đã từng giảng dạy văn ở trường Huỳnh Thúc Kháng

– Tham gia Đoàn văn công Liên khu IV, trở thành hội viên Chi hội Văn nghệ Liên khu

– Năm 1954, ông dự trại sáng tác Trung ương

– Từ năm 1957 đến năm 1974, ông là biên tập viên, Phó phòng biên tập của Nxb Kim Đồng

– Trong suốt sự nghiệp văn chương của mình, nhà văn Trần Thanh Địch đã viết và xuất bản được hơn 40 tác phẩm

Tác phẩm

– Truyện:

+ Tổ tâm giao (truyện 1960)

+ Đưa trâu qua sông (truyện 1962)

+ Cô giáo vỡ lòng (truyện 1967)

+ Chống Thừa Thiên (truyện 1963)

– Tiểu thuyết:

+ Thưa các ngài, tôi, nhà văn sĩ (in trên Tiểu thuyết thứ bảy)

– Thơ:

+ Phấn thời xanh

+ Cánh giữa trời

+ Ta trong vạn kiếp…

– Ký:

+ Hải đảo Cô Tô (ký 1964),

+ Cây trái miền Nam (ký 1966)

– Một số tác phẩm dành cho thiếu nhi:

+ Một cần câu

+ Thay màu cho xác chết (1995)

+ Đôi tai mèo

+ Thay màu cho xác chết

+ Con nhà quan

+ Săn và bẫy thú

+ Tổ tâm giao

+ Chông Thừa Thiên

+ Dũng sĩ mười ba tuổi

+ Săn cọp

Giải thưởng

– Đoạt giải A Giải thưởng Văn học Thiếu nhi năm 1993 với tập truyện ngắn “Một cần câu”

Phong cách sáng tác

Nhà văn Trần Thanh Đình – nhà văn của xứ Huế, với tài năng, sáng tạo, cùng sự hiểu biết qua những góc nhìn, khám phá, thấu hiểu, nhà văn đã trải vào trong từng trang sách của bản thân những câu chuyện đầy ý nghĩa nhân văn, những bài học kinh nghiệm quý báu. Đối với những tác phẩm viết cho thiếu nhi, ông dùng giọng điệu dí dỏm, tinh nghịch, hài hước như hóa thân thành một người bạn đồng trang lứa với các bạn nhỏ, để sẻ chia, kết nối, giúp các bạn nhỏ hình thành được thế giới quan chín chắn, tích cực hơn. Nhưng kể cả khi không viết cho thiếu nhi thì giọng văn của nhà văn vẫn luôn thật thà, thảnh thơi, mang hơi thở tràn đầy sức sống. Đồng thời với ngôn ngữ mượt mà, giản đơn, trong sáng, miêu tả tài tình, sống động đều toát lên tình yêu con người, quê hương đất nước và những bài học mang tính triết lý sâu sắc mà nhà văn Trần Thanh Đình muốn để lại cho đời.

Nhận định, đánh giá

– Lời khuyên của Trần Thanh Đình: “Nghề viết lách, trước nhất phải có cái say, cái tâm hồng đã… Thứ nữa là vốn sống. Vốn sống trong thực tế và vốn sống từ sách vở… Vốn sống càng phong phú thì nhà văn càng thả sức vẫy vùng, tung hoành ngòi bút. Vốn sống của người cầm bút như là lưng vốn của người đi buôn, của người sản xuất, như là hạt giống của người nông dân. Người viết văn mà không có vốn sống, thì khác gì anh nông dân không có hạt giống, anh đi buôn không có vốn. Sau hết, rất quan trọng là ý chí và nghị lực”

– Trần Thanh Đình dành lời góp ý, khen ngợi sự hiểu biết của nhà văn Đoàn Giỏi: “Ông biết rất nhiều phong tục tập quán Nam bộ, nên trong bản thảo phong phú lắm, chất “đất rừng” và “phương Nam” rất rõ. Nhưng phong tục truyền thống tốt đẹp, khảng khái, nhân ái, yêu thương, đùm bọc… thì càng nhiều càng ít. Còn hủ tục thì càng ít càng nhiều, nên gác lại, để đó cho những người lớn khi cần…”.