Top 20+ bài thơ viết về mẹ của Xuân Diệu hay nhất

Xuân Diệu – một trong những cây bút tài hoa của phong trào Thơ mới ở Việt Nam. Các sáng tác của Xuân Diệu đem đến cho người đọc những dòng cảm xúc, suy tư khác nhau, một làn điệu rất đỗi đặc biệt, bởi vậy mà thơ của ông luôn được vô vàn người yêu thích, thưởng thức. Cùng tìm hiểu về nhà thơ qua bài viết Giới thiệu tác giả Xuân Diệu (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định) nhé!

Tiểu sử

– Xuân Diệu còn có bút danh Trảo Nha tên thật là Ngô Xuân Diệu (sinh ngày 2 tháng 2 năm 1916 – mất ngày 18 tháng 12 năm 1985) là nhà thơ, nhà báo, nhà văn viết truyện ngắn và nhà phê bình văn học người Việt Nam.

– Quê quán:làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, nhưng sinh tại quê mẹ ở xã Hoà Phước, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

– Gia đình: Cha ông là giáo viên Ngô Xuân Thọ, mẹ là Nguyễn Thị Hiệp. Năm 1956, ông kết hôn với nữ đạo diễn Bạch Diệp 27 tuổi, nhưng mối tình không được viên mãn và cả hai sớm chia tay, sau đó Xuân Diệu sống một mình trong một căn hộ ngay bên dưới gia đình Huy Cận, người đã kết hôn với Ngô Xuân Như, em gái Xuân Diệu. Con nuôi của ông là Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ – con trai nhà thơ Huy Cận, và cũng là cháu ruột của ông (cậu ruột).

– Học vấn: học ở Quy Nhơn từ năm 1927 (11 tuổi), năm 1936-1937, ông học và tốt nghiệp tú tài ở Huế trường Khải Định. Năm 1937, Xuân Diệu sau ra Hà Nội học trường Luật và viết báo.

Giới thiệu tác giả Xuân Diệu (Tiểu sử, sự nghiệp, phong cách sáng tác, nhận định)

Sự nghiệp

– Những năm 1938-1940: ông là thành viên nhóm Tự lực văn đoàn, và cùng Huy Cận ở gác 40 Hàng Than.

– Năm 1940: Xuân Diệu vào Mỹ Tho (nay là Tiền Giang) làm tham tá thương chánh.

– Năm 1942: ông quay lại Hà Nội làm nghề viết văn

– Năm 1944: ông tham gia Việt Minh rồi tham gia kháng chiến, di tản lên chiến khu Việt Bắc, hoạt động văn nghệ cách mạng.

+ Xuân Diệu tham gia phong trào Việt Minh, đảng viên Đảng Dân chủ Việt Nam, sau tham gia Đảng Cộng sản.

+ Sau Cách mạng tháng Tám, ông hoạt động trong Hội văn hóa cứu quốc, làm thư ký tạp chí Tiên phong của Hội. Sau đó ông công tác trong Hội văn nghệ Việt Nam, làm thư ký tòa soạn tạp chí Văn nghệ ở Việt Bắc.

– Bên cạnh sáng tác thơ, ông còn tham gia viết báo cho các tờ Ngày Nay và Tiên Phong. Ông là một trong những người sáng lập Đoàn báo chí Việt Nam, nay là Hội Nhà báo Việt Nam.

– Xuân Diệu tham gia ban chấp hành, nhiều năm là ủy viên thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam.

– Hòa bình lập lại năm 1954, Xuân Diệu về sống tại Hà Nội, viết báo và sáng tác thơ.

– Từ 1955 đến tháng 6 năm 1958: Xuân Diệu bị lôi kéo vào Phong trào Nhân Văn – Giai Phẩm.

– Xuân Diệu từng là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I. Ông còn được bầu là Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm nghệ thuật nước Cộng hòa Dân chủ Đức năm 1983.

– Ông qua đời ngày 18 tháng 12 năm 1985 sau một cơn nhồi máu cơ tim, thọ 69 tuổi, an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch.

Tác phẩm

– Thơ:

+ Thơ thơ (1938, 1939, 1968, 1970), 46 bài thơ

+ Gửi hương cho gió (1945, 1967), 51 bài thơ

+ Ngọn Quốc kỳ (1945, 1961)

+ Hội nghị non sông (1946)

+ Dưới sao vàng (1949), 27 bài thơ

+ Sáng (1953)

+ Mẹ con (1954), 11 bài thơ

+ Ngôi sao (1955), 41 bài thơ

+ Riêng chung (1960), 49 bài thơ

+ Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), 49 bài thơ

+ Một khối hồng (1964)

+ Hai đợt sóng (1967)

+ Tôi giàu đôi mắt (1970)

+ Mười bài thơ (1974)

+ Hồn tôi đôi cánh (1976)

+ Thanh ca (1982)

+ Tuyển tập Xuân Diệu (1983)

– Văn xuôi:

+ Phấn thông vàng (1939, truyện ngắn), 17 truyện

+ Trường ca (1945, bút ký), 9 bài

+ Miền Nam nước Việt (1945, 1946, 1947, bút ký)

+ Việt Nam nghìn dặm (1946, bút ký)

+ Việt Nam trở dạ (1948, bút ký)

+ Ký sự thăm nước Hung (1956, bút ký)

+ Triều lên (1958, bút ký)

– Tiểu luận phê bình:

+ Thanh niên với quốc văn (1945)

+ Tiếng thơ (1951, 1954)

+ Những bước đường tư tưởng của tôi (1958, hồi ký)

+ Ba thi hào dân tộc (1959)

+ Phê bình giới thiệu thơ (1960)

+ Hồ Xuân Hương bà chúa thơ Nôm (1961)

+ Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ (1961)

+ Dao có mài mới sắc (1963)

+ Thi hào dân tộc Nguyễn Du (1966)

+ Đi trên đường lớn (1968)

+ Thơ Trần Tế Xương (1970)

+ Đọc thơ Nguyễn Khuyến (1971)

+ Và cây đời mãi xanh tươi (1971)

+ Mài sắt nên kim (1977)

+ Lượng thông tin và những kỹ sư tâm hồn ấy (1978)

+ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (tập I, 1981; tập II, 1982)

+ Tìm hiểu Tản Đà (1982).

– Dịch thơ:

+ Thi hào Nadim Hitmet (1962)

+ V.I. Lênin (1967)

+ Vây giữa tình yêu (1968)

+ Việt Nam hồn tôi (1974)

+ Những nhà thơ Bungari (1978, 1985)

+ Nhà thơ Nicôla Ghiđen (1982).

– Tác phẩm của Xuân Diệu được phổ nhạc:

+ “Yêu được” Châu Kỳ phổ thành Đừng nói xa nhau. Ngoài ra, Phạm Duy cũng phổ nhạc bài thơ này thành Yêu là chết Trong Lòng.

+ “Nguyệt cầm” được Cung Tiến phổ nhạc.

+ “Vì sao” được Phạm Duy phổ thành Mộ khúc.

Giải thưởng, vinh danh

– Xuân Diệu đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I về văn học nghệ thuật (1996).

– Tên của ông được đặt cho: một đường phố ở Hà Nội, một con đường ở thành phố Quy Nhơn (Bình Định), thành phố Đồng Hới, Quảng Bình có con đường mang tên Xuân Diệu ở phường Nam Lý, TPHCM có con đường mang tên ông ở quận Tân Bình.

– Tên nhà thơ được đặt cho một trường trung học phổ thông ở huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định và một trường THCS tại huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

– Ông được lập nhà tưởng niệm và nhà thờ ở làng Trảo Nha, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (bên cạnh đường lên Ngã Ba Đồng Lộc).

Phong cách sáng tác

– Xuân Diệu là một trong những cây bút tiểu biểu nhất của phong trào Thơ mới. Các sáng tác của ông đều mang theo một ngọn gió nhiệt huyết, nồng cháy, rạo rực những cũng thiết tha, khao khát yêu thương.

– Nhiều câu thơ cũng như các trang thơ của Xuân Diệu chịu ảnh hưởng từ khuynh hướng thi ca lãng mạn Pháp. Thế nên hương vị trong thơ của ông đều rất đỗi đặc biệt, sắc hồng ngọt ngào, bộc bạch trái tim nồng cháy, say mê hình ảnh cuộc sống của một người nghệ sĩ nguyện dâng hiến cả trái tim cho thơ tình song lại pha với nét buồn, cô đơn.

– Chất thơ luôn được khắc lên sự sáng tạo, mới mẻ, khác biệt, ngôn từ được sử dụng một cách linh hoạt, hấp dẫn nhiều độc giả với câu từ thú vị, đặc biệt, không chỉ sáng tạo trong cách dùng từ và câu mà Xuân Diệu còn biến hóa chúng để diễn đạt trọn vẹn những cảm xúc mới mẻ và tinh thần sống động.

– Hình ảnh trong bức tranh thơ Xuân Diệu chính là sự kết hợp giữa màu sắc thiên nhiên truyền thống với tinh thần dân chủ hiện để phản ảnh sự độc đáo, sinh động trong ngôn ngữ cùng với hình ảnh.

– Tuy nhiên, bên cạnh khát khao với sự sống và yêu đời, thơ Xuân Diệu còn hiện diện hình bóng của những nỗi buồn, nỗi trăn trở của cuộc sống, có lẽ ông tự đặt ra cho chính mình hoặc cho người đọc những câu hỏi khó trả lời trước những biến đổi của cuộc đời.

– Khi tham gia Việt Minh, Xuân Diệu chuyển hướng ngòi bút của mình sang phong cách ca ngợi cách mạng, bút pháp phong phú, đặc sắc, giọng điệu thơ trầm hùng, tráng ca, song cũng vẫn có giọng thơ tự sự trữ tình đặc trưng của ông.

Nhận định, đánh giá

Thi nhân Việt Nam – Hoài Thanh, Hoài Chân:

+ “Ngày một ngày hai cơ hồ ta không còn để ý đến những lối dùng chữ đặt câu quá Tây của Xuân Diệu, ta quên cả những ý tứ người đã mượn trong thơ Pháp. Cái dáng dấp yêu kiều, cái cốt cách phong nhã của điệu thơ, một cái gì rất Việt Nam, đã quyến rũ ta”

+ “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới – nên chỉ những người còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu, mà đã thích thì phải mê. Xuân Diệu không như Huy Cận vừa bước vào làng thơ đã được người ta dành ngay cho chỗ ngồi yên ổn. Xuân Diệu đến giữa chúng ta tới nay đã ngót năm năm mà những tiếng khen chê chưa ngớt. Người khen, khen hết sức; người chê, chê không tiếc lời”

- Chân dung và đối thoại- Trần Đăng Khoa: “Thơ ông tài hoa, tinh tế và sang trọng”

Cát bụi chân ai – Tô Hoài: “Xuân Diệu đào hoa và đam mê, cả đời đuổi theo mộng, nhiều mộng, nhiều mối tình trai.”

Nguyễn Tuân: “Xuân Diệu mới nhất trong nhà thơ mới”.

Chế Lan Viên: “Xuân Diệu là cả một viện nghiên cứu văn học trong anh”.

– Hoàng Trung Thông: “Đau lòng thay! Mất một nhà thơ lớn. Mất một người bạn và về thơ anh là bậc đàn anh của tôi”.

Thế Lữ: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian”.

Nguyễn Đăng Mạnh: “Xuân Diệu không quan niệm tình yêu chỉ là sự giao cảm xác thịt mà còn là sự giao cảm của những linh hồn mà đấy mới là cái khát vọng cao nhất, cái đích cao nhất trong tình yêu”.

Tố Hữu: “Xuân Diệu là một nhà thơ lớn, đặc sắc, độc đáo của nền thơ hiện đại Việt Nam… cho tới nay và những năm tháng trước mắt liệu có ai vượt được Xuân Diệu trong lĩnh vực thơ tình? Và không ai có thể thay thế được Xuân Diệu”.