Top 20+ bài thơ viết về mẹ của Xuân Diệu hay nhất

Xuân Diệu là một trong những nhà thơ lớn của Việt Nam. Ông được biết đến nhiều trong giai đoạn đó từ phong trào thơ mới với tập thơ thơ và gửi hương cho gió. Những bài thơ được yêu thích của Xuân Diệu là thơ tình, thể hiện triết lý bi quan, tuyệt vọng về tình ái. Và ông được biết đến là ông hoàng của thi ca lãng mạn. Dưới đây là tuyển tập những bài thơ về mẹ của Xuân Diệu hay nhất, mời các bạn đón xem!

Top 20+ bài thơ viết về mẹ của Xuân Diệu hay nhất. Dưới đây là tuyển tập những bài thơ về mẹ của Xuân Diệu hay nhất, mời các bạn đón xem!

Thơ của Xuân Diệu viết cho mẹ trong kháng chiến

1. Nhớ quê Nam

Ôi miền Nam, miền Nam
Quê má, quê má yêu,
Quê xinh đẹp trăm chiều;
Ôi miền Nam, miền Nam,
Ôi Bình Định, Qui Nhơn,
Đâu yêu mến cho hơn
Nơi ta lọt lòng mẹ?

Gió biển ở Qui Nhơn,
Khi ta còn đi học,
Tháp Chàm ở Bình Định
Khi ta còn chạy chơi;
Ôi miền Nam, miền Nam,
Ôi mảnh đất khu Năm,
Đất với ta ăn nằm,
Cát sỏi vẫn nuôi ta,
Thuở nô lệ vẫn nuôi ta!

Ôi quê hương bà ngoại,
Chợ búa và bến đò,
Sông tuổi thơ quằn quại!
Hôm nay ta nói thật
Nhớ đứt ruột miền Nam;
Từ hôm ấy về thăm,
Đã mười ba năm, có lẻ.

Quê má, quê má yêu
Ta mang theo sớm chiều,
Mang theo trong giọng nói
Pha Bắc, vẫn Nam nhiều;
Mang trong những chữ, lời
Dùng mỗi khi nói, viết;
Mang trong một nửa người
Miền Nam là máu huyết,
Nửa tâm hồn, tình cảm,
Nào biết dọc hay ngang?

Ôi bao giờ, bao giờ
Ta tắm vào da thịt
Con sông nhỏ Gò bồi,
Qui Nhơn về ngụp biển,
Muối đọng ở vành tai!
Ôi bao giờ, bao giờ
Từ trước ngực, sau vai
Cũng ngập đầy quê má?

Ta hỏi với lưỡi cày
Có sâu và có sắc,
Ta hỏi cùng búa sắt,
Ta tự hỏi bút ta.
Ôi miền Nam, miền Nam
Quê yêu dấu muôn năm,
Ôi mảnh đất hờn căm
Đang nảy thành hoa bão lửa!

2. Bà mẹ miền Nam

Mẹ Bình Định xa xăm.
Con Thái Nguyên công tác.
Mẹ nhớ trong khu Năm;
Con thương ngoài Việt Bắc.

Hôm cuối cùng nhìn mẹ,
Địch đang gây Hải Phòng.
Con đáp tầu ra Bắc;
Kháng chiến tám mùa đông.

Đánh giặc tám năm ròng,
Nhân dân mình đau xót,
Lửa cháy đất tàn không,
Máu rơi nghìn triệu giọt.

Năm ngoái nghe tin mẹ
Địch tràn lên quê nhà,
Thân già đi tránh nó
Quần áo bỏ rơi xa.

Mẹ trở về tay không,
Được bà con giúp đỡ.
Con đọc thư hởi lòng:
Năm nay da mẹ đỏ.

Mẹ làm quà, bán bánh.
Mẹ lao động, tăng gia;
Xưa đời buồn, mẹ khóc;
Nay mẹ vui Cộng hòa.

Mẹ bẩy mươi tuổi rồi,
Sức không nhiều đâu nữa.
Mẹ cố sống thêm ngày,
Mong thấy con trước cửa.

Mong nước nhà độc lập,
Con của mẹ về thăm,
Bõ đêm nằm mẹ nhớ
Sáu, bảy, rồi tám năm.

Con thầm lo mẹ già,
Sợ khó mà gặp mẹ;
Quân giặc cướp nước ta,
Xót xa già với trẻ.

Cảm thương muôn bác mẹ
Xa cách vạn người con,
Con nghĩ tình đất nước,
Chăm lo công tác tròn.

Nay dành lại Hòa bình
Do sức ta kháng chiến,
Con thương mẹ một mình,
Con chưa về được đến.

Mẹ ở vùng tạm đóng
Trước đây miền tự do:
Không khỏi lòng mẹ tủi,
Nhưng mẹ à, chớ lo!

Vĩ tuyến nào vĩ tuyến,
Nước của mẹ con ta
Chân nào còn lẩn quất,
Cũng đến ngày gạt ra.

Sức ta nay vững mạnh,
– Có mạnh mới Hòa bình –
Dân ta càng phấn đấu
Giữ nguyên non nước mình.

Mẹ trong ấy yên tâm,
Con ngoài này gắng sức.
Ngừng chiến, việc bằng trăm,
Chạy thi lên đỉnh dốc.

Đến một ngày sung sướng
Con được phép về nhà,
Con chạy ào vô cửa,
Mẹ vui quá khóc òa.

Con quạt màn mẹ nghỉ,
Mẹ kho cá con ăn.
Ơn cụ Hồ lo nghĩ,
Nước non nay đã gần.

3. Bà cụ mù loà

Nhà tranh, bà cụ mù loà
Chiều chiều cõng cháu trông nhà một thân.
Con trai hăng hái tòng quân,
Dâu hiền tất tả lo chăm việc đồng.
Một đời cấy rẽ làm công,
Làm bao nhiêu, chỉ đau lòng, thiếu ăn!
Nghèo không sắm nổi cái khăn,
Khổ như trái bưởi chìm lăn, dập vùi.
Goá chồng từ lúc bốn mươi,
Chết con ba đứa, sẩy thai một lần.
Mắt đau lông cặm mờ dần,
Người chăm, thuốc chữa một phần cũng không
Tuổi già nay sáu mươi đông,
Mười lăm năm chẳng được trông mặt trời.
Thương dâu chạy bữa lần hồi,
Sào khoai, con lợn, mù rồi vẫn chăm.
Lần mò nhúm lửa, nấu cơm,
Tối tăm sờ soạng đêm hôm ngợ ngàng.
Mẹ ơi! con đến trong làng,
Con nhìn mắt mẹ lòng càng xót sa!
Một trăm năm mất nước nhà,
Nghìn năm địa chủ làm ta đói nghèo.
Mẹ mù vì thuế phải đeo,
Vì tô phải trả, lại đèo nợ non.
Một đời của mẹ héo hon,
Có hai con mắt chết mòn cả hai.
Quanh năm chỉ một đêm dài,
Sáng trời không thấy mặt người thân yêu.
Lòng bà thương cháu nâng niu,
Chỉ nghe thấy tiếng sớm chiều mà thôi!
Sáu mươi tuổi, khổ chưa rồi,
Đó là tội ác của loài dã man:
Quân địa chủ! lũ thực dân!
Chúng bay cướp cả mọi phần sướng vui!
Cướp trâu, cướp ruộng, cướp đồi,
Bay còn cướp giật cả đôi mắt người.
Trả đây nước mắt, mồ hôi,
Ruộng nương, nhà cửa, cuộc đời chúng tao
Trước kia bay ở trên cao,
Bây giờ sẽ quật bay vào đất đen!
Dân cày ta đã đứng lên,
Nụ cười đem lại ở trên môi già.
Mẹ dù đau đớn mù loà,
Ánh xuân sẽ dọi chan hoà tâm can.

Top 20+ bài thơ viết về mẹ của Xuân Diệu hay nhất. Dưới đây là tuyển tập những bài thơ về mẹ của Xuân Diệu hay nhất, mời các bạn đón xem!

Thơ của Xuân Diệu viết cho mẹ ngoài kháng hiến

1. Nhà mới

Mẹ ngồi nấu cơm khoai
Trong căn nhà mới dọn.
Hơi khói vàng mới đượm
Lên miếng ngói, đường rui.

Ngói mặt trên cũ rồi;
Ngói còn hồng mặt dưới.
Vách bên ngoài lạnh lẽo;
Trong: chữ viết tươi cười.

Nhà còn rộng lắm thay,
Chưa đủ đồ bày biện.
Nhưng tối về vui chuyện,
Bát nước mới chuyền tay.

Mẹ ngoảnh lại đằng này,
Cũng nông dân mình ở.
Mẹ nhìn xa hơn nữa,
Bốn phía cũng dân cày.

Nhà thằng ác bá xưa nay,
Nó đi đền tội, của này tịch thu.
Mấy toà ngang dọc, trước sau,
Nông dân làm chủ, cùng nhau quây quần.

Nơi đá gạch giam thân
Nay hơi xuân đầm ấm.
Cửa ngăn xưa thăm thẳm
Nay đón bước, hiền lành.

Xưa địa chủ xây thành
Ngồi ăn xương, uống tuỷ.
Nhà nó xông sát khí
Mấy dặm hãy còn tanh.

Sân cướp thóc phơi quanh
Nay trẻ vào hát, nhảy.
Nhà ngang xưa máu chảy
Nay lớp dạy bình dân.

Mẹ sáu chục năm dư
Chịu lưng nhừ, ruột thắt.
Nay cất đầu, mở mặt,
Mẹ có nương, có nhà.

Mẹ quên cả tuổi già,
Làm bao nhiêu cũng khoẻ.
Ruộng về ta lại trẻ,
Thóc lúa sẽ tăng gia.

Mẹ còn đang luộc cải,
Cơm khoai đã chín bùi.
Con ra ruộng về rồi,
Cháu sắp về, tan học

Nghĩ đến xưa muốn khóc,
Nhìn ngày nay: mẹ cười.

2. Anh bộ đội về làng

Nhớ làng phát động không nguôi,
Hôm nay được trở về nơi ba cùng.
Con đường, bờ ruộng, khúc sông,
Bóng tre, màu rạ; như trong ruột rà.
Dù không đất tổ, quê cha,
Nơi say công tác, đó là quê hương.
Mỗi lời thăm hỏi, vấn vương;
Mỗi em níu áo, lòng thương lạ lùng!
Bước về nhà rễ cố nông,
Con nay cán bộ, mẹ trong chấp hành.
Mẹ mừng, nước mắt chảy quanh,
Nấu khoai, chặt mía, như giành bấy nay:
– “Anh đi, để lại điếu cày,
Mẹ trông thấy điếu, ngày ngày nhớ anh.
Bữa ăn bát nhút, nồi canh,
Cháu thơ nhắc nhở nhìn quanh ghế ngồi.
Đội về, thôn xã sáng tươi,
Có anh hai tháng, cuộc đời mẹ hay”.
Nhìn nhà, nhìn cửa đổi thay,
Cháu thêm chiếc áo, chuồng nay có bò.
Băng vườn, tạt lối quanh co,
Thăm lân, thăm xóm, chuyện trò mừng sao!
Nghe tin sản xuất nâng cao,
Mở năm lớp học, giếng đào được ba.
Hỏi thăm sức khoẻ gần xa,
Trẻ em hết ghẻ, cụ già lành ho.
Hỏi thăm khoai sắn đói, no?
Vải nay đắt, rẻ? mật giờ thấp, cao?
Hỏi mình đoàn kết ra sao?
Hỏi mưu địa chủ đứa nào còn ngoe?
– Bà con hỏi lại, muốn nghe
Những tin thắng trận, câu vè, bài thơ.
Trầu ăn thắm miệng, thuốc đưa,
Mừng trông các cụ bây giờ khoẻ vui;
– Rằng: “Đi công tác nhiều nơi,
Chúng con thường vẫn nhớ khoai xã nhà;
Không đâu bằng ở quê ta
Khoai ăn thoả thích, nhiều mà dẻo, ngon.
Nhớ khoai là nhớ bà con
Gian lao vẫn một lòng son ngọt bùi”.

Những người đấu cật, chung vai,
Gặp nhau sao xiết rộng, dài tình thương!
Tình yêu đất nước quê hương
Là tình kính mến, yêu thương đồng bào.

3. Mẹ con

Mẹ bồng con đang bú
Đi Đại hội Nông dân,
Mẹ chăm chú tinh thần,
Con trong tay thiếp ngủ.

Tay mẹ còn khe khẽ
Quạt phơ phất cho con;
Con nghênh nghênh má tròn,
Sữa còn vương trên má.

Mẹ đi từ Đồng Trẩm
Về học tập trong Đình;
Chồng cán bộ thôn mình,
Vừa đấu tranh, sản xuất.

Mỗi lời nghe giảng giải,
Đau xót lại trào lên.
Con của mẹ mẹ nhìn,
Nhớ trăm nghìn khổ ải.

Năm đói, chồng đi ở,
Bị địa chủ quỵt công;
Vợ thoi thóp chờ trông
Ít gạo tiền – không thấy.

Nửa năm về, tay trắng,
Con hai đứa chết rồi;
Cha sáu chục chôn vùi;
Nhà tan hoang, xơ xác.

Đi, còn quần áo tốt,
Về, quần cộc vải thưa.
Đi, khoẻ mạnh cày bừa,
Về, mặt xanh xương bọc.

Con đầu không chết đói,
Năm nay đã lên mười.
Ôm con nhỏ bồi hồi
Căm tức loài gian ác.

Con cựa mình, mở mắt;
Mẹ bế xốc lên hôn.
Mẹ quyết giữ lấy con
Cho lớn khôn, no ấm.

Con thơm tho, bụ bẫm,
Đẹp hơn bố mẹ nhiều.
Mẹ dám nắng đen điu,
Con hồng hào, sáng sủa.

Mẹ hãy còn rách vá,
Con đã được áo hoa;
Cổ đỏ, áo hoa cà,
Mẹ dành cho con mặc.

Nửa đời mẹ đã khổ,
Nhưng con sẽ sướng vui.
Ruộng đất đổi tay người,
Nụ cười mai sẽ nở.

Tuyển tập thơ Xuân Diệu viết về gia đình

1. Bà má Năm Căn

Bà má Năm Căn bỏm bẻm nhai trầu,
Mặc áo bà ba, đầu búi tóc –
Sao con thấy má là hình đất nước,
Má ơi, ở tận chót Cà Mau.

Là một làng xanh biếc trên sông,
Nằm giữa vùng quanh năm nước ngập,
Vẹt với đước ken dày trùng điệp,
– Những thợ rừng, thợ biển đổ bao công…

Khi má vừa bước đến Năm Căn,
Lơ thơ mới mấy chòi đốn củi;
Cá đặc nước, nhưng rừng còn tối;
Đất hẹp trồng rau lúa khó khăn.

Thương bác trai năm ấy phá rừng,
Cơm chiều đợi, mà chạy tìm: thảm xót!
Bên vũng máu, những lốt in chân cọp,
Cây đước còn dao phập ngang lưng.

Má Năm Căn mấy chục năm tròn
Nuôi hai con, làm nghề cá, mắm.
Chợ Năm Căn cửa nhà xây thắm,
Tôm khô tép lụi cá biển lồng thơm…

Chợ Năm Căn đốt, dựng mấy lần
Năm Căn vẫn cây rừng, cá bể…
Bà má Năm Căn vào “Hội mẹ”,
Nuôi bộ đội từng bữa uống, bữa ăn.

Cảm kích thay bà má Năm Căn
Có một con trai làm trái, rễ,
Cộng hoà vệ binh ngày khởi nghĩa,
Đánh trận Gia Rai vì nước bỏ mình.

Ngập dấu dao xưa, cây đước xanh,
Lá ánh mặt trời che bóng mát
Trên hai nấm mồ cha với con,
Êm đềm gió biển ru phơ phất.

Bà má Năm Căn vẫn đó mà!
Bền bỉ giữ sông và bám đất,
Ham ưa trồng trọt, thích chăn nuôi,
Lòng thuỷ chung như đầy bát nước.

Đoàn thể phê bình má chủ quan,
Gọi ông chủ tịch xã bằng thằng;
Quả tình má trọng như con đẻ,
Không phân tình mẹ với tình dân.

Ôi! má Năm Căn tóc ngả màu
Vẫn còn phải giữ chót Cà Mau,
Ruột liền của má ôm Nam – Bắc,
Lại những đêm ngày cực xót đau.

*

Bà má Năm Căn, bà má Năm Căn,
Những bà má Năm Căn làm ra đất nước,
Xắn đôi tay áo, buộc khăn rằn,
Đánh chết bọn ăn cướp, ăn cướp!

2. Em Ứng

Em Ứng đi trong trí nhớ tôi,
Ôi em trai trẻ mắt yêu đời,
Bước dài, vai rộng, nhanh câu nói,
Răng đẹp tươi hoa, nhớ nụ cười.

Ở nhà, ba má gọi “thằng Phương”,
Chợ nhỏ bên kênh quán thủ thường;
Lên học Mỹ Tho hằng nhất lớp,
Nghèo nên chăm học, Ứng là gương.

Ứng ham đá bóng, ưa xoài tượng,
Đi guốc đơn sơ, tính rất hiền.
Từ lúc vào Nam tôi gặp Ứng,
Bốn năm tình nghĩa kết anh em.

Sách hay những lúc kề nhau đọc,
Một nớp nhiều khi hai bạn chui.
Ứng nó chí tình dù kém tuổi,
Ngày tôi về Bắc, viết thư hoài.

Kháng chiến anh trên rừng Việt Bắc,
Khu Đ em cũng ở bưng biền.
Có vợ, một con, em khoẻ mạnh,
Ứng là cán bộ của thanh niên.

Rồi một hôm kia, bỗng tối trời!
Tin ra: Mỹ Diệm giết em rồi.
Giết ba mươi tuổi đang tràn sức,
Giết ở miền Nam Ứng của tôi!

Chúng giết một người đang tiến bước,
Cổ em đang hát – máu ào ra!
Không buộc được chân, nên chúng giết
Một tương lai đang độ sáng loà.

Em Ứng đi trong trí nhớ anh,
Bức thư em gửi lúc Hoà bình
Còn đây nét chữ tươi roi rói
Như thấy em cười, em bước nhanh.

Thù tới kề bên, chẳng phải xa,
Thù trong máu thịt đứa em ta!
Thù vung những cánh tay lông lá
Đạn nhắm tim tôi bắn thẳng mà!

Con của Ứng bây giờ ai nuôi?
– Ứng ơi! đã chuyển sức muôn người,
Đã gầm bão táp tung bay đá
Trên khắp miền Nam đó, Ứng ơi!

3. Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ Nghệ đeo khăn gói đỏ
Vượt đèo Ngang, kiếm nơi cần chữ.
Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Hai phía đèo Ngang: một mối tơ hồng.

Quê cha Hà Tĩnh đất hẹp khô rang,
Đói bao thuở, cơm chia phần từng bát.
Quê mẹ gió nồm thổi lên tươi mát,
Bình Định lúa xanh ôm bóng tháp Chàm.

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Ông đồ nho lấy cô làm nước mắm.

Làng xóm cười giọng ông đồ trọ trẹ,
Nhưng quý ông đồ văn vẻ giỏi giang.
Bà ngoại nói: tôi trọng người chữ nghĩa,
Dám gả con cho cách tỉnh, xa đàng.

Tiếng đàng trong, tiếng đàng ngoài quấn quít
Vào giữa mái tranh, giường chõng, cột nhà
Rứa, mô, chừ? cha hỏi điều muốn biết,
Ngạc nhiên gì, mẹ thốt: úi chui cha!

Con trong võng êm lành kêu kẽo kẹt
Ru tuổi thơ theo hai điệu bổng trầm.
Mẹ thảnh thót: qua nhớ thương em bậu;
Cha hát dặm bài “Phụ tử tình thâm”.

Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong.
Muốn ăn nhút, thì về quê với bố.
Muốn ăn quýt, ăn hồng, theo cha mày mà về ngoài đó,
Muốn uống nước dừa, ăn xoài chín đỏ,
Muốn ăn bánh tét, bánh tổ,
Thì theo tao, ở mãi trong này.

*

Đội ơn Thầy, đội ơn Má sinh con.
Cảm ơn Thầy vượt đèo Ngang bất kể!
Cảm ơn Má biết yêu người xứ Nghệ;
Nên máu con chung hoà cả hai miền.